Tiếp cận việc làm nông thôn ảnh hưởng sinh kế thế nào?
- Tiếp cận việc làm mở rộng sinh kế qua nhiều nguồn thu nhập
- Việc làm ngoài nông nghiệp giúp giảm phụ thuộc mùa vụ và cú sốc
- Chất lượng việc làm quyết định mức cải thiện sinh kế
- Hạ tầng, kỹ năng, tín dụng và thông tin định hình khả năng tiếp cận
- Lợi ích từ cơ hội việc làm không phân bổ đều giữa các hộ
- Khi nào tiếp cận việc làm chưa tạo ra sinh kế tốt hơn?
Tiếp cận việc làm mở rộng sinh kế qua nhiều nguồn thu nhập
Ảnh hưởng trực tiếp nhất của tiếp cận việc làm nông thôn là mở rộng danh mục nguồn thu của hộ. Một gia đình làm nông có thể đồng thời có thu nhập từ tiền công, dịch vụ, nghề thủ công, kinh doanh hộ gia đình hoặc các hoạt động phi nông nghiệp khác. Khi đó, sinh kế không còn phụ thuộc hoàn toàn vào sản lượng và giá bán của một hoạt động sản xuất.
Đây là thay đổi quan trọng vì nông nghiệp vẫn sử dụng khoảng một tỷ lao động trên thế giới, tương đương khoảng 28% tổng số người có việc làm theo ILO. Vì vậy, khả năng kết nối lao động nông thôn với những hoạt động có năng suất và thu nhập khác nhau có ý nghĩa lớn đối với cấu trúc sinh kế của một bộ phận rất lớn dân số lao động.
Cơ chế tác động có thể hiểu theo chuỗi đơn giản: cơ hội việc làm tăng → hộ có thêm lựa chọn phân bổ lao động → xuất hiện thêm dòng thu nhập → mức phụ thuộc vào một nguồn thu giảm. Nếu nguồn thu mới có năng suất hoặc tiền công cao hơn hoạt động thay thế, tổng nguồn lực kinh tế của hộ còn có thể tăng lên.
Bằng chứng của World Bank cho thấy hoạt động phi nông nghiệp có thể đóng vai trò đáng kể trong thu nhập nông thôn. Trong một nghiên cứu tại hai tỉnh của Trung Quốc, hoạt động phi nông nghiệp làm giảm bất bình đẳng thu nhập nông thôn do nâng thu nhập của các hộ nghèo tương đối nhiều hơn các hộ giàu.
Tuy vậy, “có nhiều nghề hơn” không tự động đồng nghĩa với “sinh kế tốt hơn”. Giá trị thực sự phụ thuộc vào mức thu nhập, tính ổn định, số giờ làm, chi phí đi lại, điều kiện lao động và cơ hội duy trì công việc. Vì vậy, cần phân biệt đa dạng hóa để nâng cao sinh kế với việc hộ buộc phải làm nhiều công việc thu nhập thấp chỉ để bù đắp thiếu hụt.

Việc làm ngoài nông nghiệp giúp giảm phụ thuộc mùa vụ và cú sốc
Thu nhập nông nghiệp thường gắn với chu kỳ sản xuất. Lao động, sản lượng và dòng tiền không phân bố đều trong năm. Khi hộ chỉ có một nguồn sinh kế, một cú sốc tác động vào nguồn đó có thể nhanh chóng trở thành cú sốc đối với toàn bộ ngân sách gia đình.
Cơ hội việc làm ngoài nông nghiệp làm thay đổi cấu trúc rủi ro này. Nếu một thành viên có tiền công hoặc thu nhập kinh doanh không hoàn toàn biến động cùng với mùa vụ nông nghiệp, hộ có thêm dòng tiền để đáp ứng chi tiêu trong thời kỳ nông nhàn hoặc khi sản xuất gặp khó khăn. Đây là lý do đa dạng hóa kinh tế và việc làm được ILO coi là một trong những hướng quan trọng để tạo ra các nền kinh tế nông thôn có sức chống chịu và tính bao trùm cao hơn.
Tác động còn có thể lan trở lại sản xuất. Thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp có thể giúp hộ có tiền mặt cho đầu vào, công cụ hoặc các khoản chi cần thiết mà sản xuất nông nghiệp chưa tạo ra dòng tiền ngay. Tuy nhiên, tác động này không phải lúc nào cũng cùng chiều: nếu công việc mới hút quá nhiều lao động khỏi nông trại vào đúng thời điểm cần nhân công, hộ cũng có thể đối mặt với đánh đổi giữa thu nhập phi nông nghiệp và hoạt động sản xuất.
Một nghiên cứu của World Bank về hộ nông thôn Malawi minh họa khá rõ cả lợi ích lẫn giới hạn này. Nghiên cứu ước tính tham gia tự làm việc phi nông nghiệp gắn với mức tăng khoảng 13% chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu người; đồng thời, tham gia việc làm hưởng lương phi nông nghiệp làm giảm xác suất chi tiêu của hộ rơi dưới chuẩn nghèo khoảng 7 điểm phần trăm, còn tự làm phi nông nghiệp giảm khoảng 8,5 điểm phần trăm trong bối cảnh được nghiên cứu. Đây là bằng chứng theo một quốc gia cụ thể, không phải mức tác động có thể áp dụng nguyên trạng cho mọi vùng nông thôn.
Điểm quan trọng vì thế không phải là thay thế hoàn toàn nông nghiệp bằng việc làm phi nông nghiệp. Một sinh kế có khả năng chống chịu tốt hơn thường đến từ khả năng lựa chọn và kết hợp các nguồn thu phù hợp, thay vì bị khóa vào một nguồn duy nhất.
Chất lượng việc làm quyết định mức cải thiện sinh kế
Số lượng cơ hội việc làm chỉ là một nửa vấn đề. Nửa còn lại là chất lượng của những cơ hội đó.
Hai hộ đều có một thành viên làm việc ngoài nông nghiệp nhưng kết quả sinh kế có thể hoàn toàn khác nhau. Một người có công việc tương đối ổn định, thu nhập đủ cao và điều kiện lao động an toàn có thể tạo ra dòng tiền thường xuyên cho gia đình. Người khác làm công việc bấp bênh, tiền công thấp hoặc có chi phí di chuyển lớn thì thu nhập ròng mang về hộ có thể rất nhỏ.
ILO nhấn mạnh khái niệm “decent work” — việc làm có năng suất đi cùng quyền tại nơi làm việc, bảo trợ xã hội và đối thoại xã hội — thay vì chỉ xem sự tồn tại của một công việc là kết quả cuối cùng. Trong kinh tế nông thôn, ILO cũng lưu ý các vấn đề như việc làm dễ tổn thương, phi chính thức, an toàn lao động và khả năng tiếp cận bảo trợ xã hội.
Bằng chứng từ Malawi cho thấy sự khác biệt về chất lượng cơ hội có thể tạo ra phân tầng rất rõ. Nghiên cứu của World Bank ghi nhận khoảng 75% việc làm phi nông nghiệp ở khu vực được nghiên cứu nằm trong những ngành không đòi hỏi lao động có kỹ năng cao; các công việc có kỹ năng tạo lợi tức cao hơn lại chủ yếu thuộc về nhóm không nghèo. Trong số việc làm mà người nghèo đảm nhận, khoảng 80% thuộc nhóm lao động không kỹ năng, so với khoảng 60% ở nhóm không nghèo.
Do đó, cải thiện sinh kế không chỉ đòi hỏi tiếp cận được việc làm, mà còn cần tiếp cận được tầng việc làm có năng suất và mức sinh lợi đủ cao. Nếu người nghèo chỉ bước vào được những công việc thấp nhất của thị trường lao động, việc mở rộng số người có việc có thể không chuyển hóa tương xứng thành tăng thu nhập hoặc tích lũy tài sản.
Hạ tầng, kỹ năng, tín dụng và thông tin định hình khả năng tiếp cận
Một cơ hội việc làm tồn tại về mặt địa lý chưa chắc đã thực sự “có thể tiếp cận”. Người lao động còn phải vượt qua một chuỗi điều kiện gồm khoảng cách, phương tiện đi lại, kỹ năng, thông tin tuyển dụng, vốn ban đầu và khả năng kết nối với thị trường.
Hạ tầng giao thông là ví dụ rõ nhất. Nghiên cứu của World Bank về đường giao thông nông thôn cho thấy tác động chính của các tuyến đường nhánh mới trong trường hợp được nghiên cứu là giúp người lao động tiếp cận việc làm phi nông nghiệp. Nhưng nghiên cứu đồng thời không ghi nhận những thay đổi lớn tương ứng về tiêu dùng, tài sản hay kết quả nông nghiệp. Điều này chỉ ra một ranh giới quan trọng: kết nối giao thông có thể mở cánh cửa vào thị trường lao động, nhưng mở cửa chưa chắc lập tức tạo ra cải thiện phúc lợi lớn.
Kỹ năng tạo ra một rào cản khác. ILO coi hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đào tạo kỹ thuật có tính bao trùm là yếu tố quan trọng để lao động nông thôn thích ứng với nhu cầu kỹ năng thay đổi. Dịch vụ kết nối việc làm cũng có thể hỗ trợ người lao động chuyển dịch giữa các hoạt động trong một nền kinh tế nông thôn ngày càng đa dạng.
Vốn cũng đặc biệt quan trọng đối với tự tạo việc làm. Trong nghiên cứu ở Malawi, khả năng tiếp cận tín dụng làm tăng xác suất tham gia tự làm phi nông nghiệp khoảng 8–10 điểm phần trăm, các yếu tố khác giữ nguyên. Kết quả này cho thấy một hoạt động kinh doanh hộ gia đình tưởng như có rào cản thấp vẫn có thể yêu cầu mức vốn đủ lớn để loại những hộ nghèo nhất khỏi cơ hội sinh lợi tốt hơn.
Vì vậy, “tiếp cận việc làm” nên được hiểu là kết quả của cả một hệ thống: việc làm phải tồn tại, người lao động phải biết đến nó, có thể đến nơi làm việc và có đủ năng lực hoặc nguồn lực để tham gia. Thiếu một mắt xích, cơ hội danh nghĩa có thể không trở thành thu nhập thực tế.
Lợi ích từ cơ hội việc làm không phân bổ đều giữa các hộ
Một hiểu lầm phổ biến là khi thị trường lao động mở rộng, mọi hộ nông thôn sẽ hưởng lợi tương tự nhau. Thực tế, những người có ít tài sản và nguồn lực nhất lại có thể gặp rào cản lớn nhất khi tiếp cận các công việc có lợi tức cao.
Giáo dục và kỹ năng ảnh hưởng tới loại công việc mà một người đủ điều kiện đảm nhận. Tài sản có thể quyết định họ có phương tiện đi lại hoặc thiết bị để kinh doanh hay không. Tín dụng quyết định khả năng trang trải chi phí ban đầu. Vị trí địa lý quyết định chi phí tiếp cận trung tâm việc làm. Trách nhiệm chăm sóc gia đình hoặc những rào cản giới cũng có thể giới hạn thời gian và phạm vi di chuyển của một số lao động. ILO vì thế gắn phát triển việc làm nông thôn với hạ tầng, đào tạo kỹ năng, tài chính, dịch vụ và những điều kiện giúp phụ nữ cũng như thanh niên thực sự tham gia được vào thị trường lao động.
Nghiên cứu Malawi cho thấy các hộ ở đáy phân phối mức sống nhận được lợi ích thấp hơn đáng kể từ cả việc làm hưởng lương và tự làm phi nông nghiệp so với nhiều nhóm khá giả hơn. Các tác giả liên hệ sự khác biệt này với những rào cản về vốn con người, vốn vật chất, tài chính và khả năng tiếp cận những cơ hội sinh lợi cao.
Điều đó tạo ra một nghịch lý: nhóm cần đa dạng hóa sinh kế nhất đôi khi lại là nhóm khó tiếp cận những cơ hội tốt nhất. Vì thế, chỉ đo số lượng việc làm mới trong một khu vực có thể chưa đủ để đánh giá tác động đến sinh kế. Cần quan tâm thêm xem ai tiếp cận được, họ tham gia loại công việc nào và thu nhập ròng thực sự tăng bao nhiêu.
Khi nào tiếp cận việc làm chưa tạo ra sinh kế tốt hơn?
Khả năng tiếp cận việc làm có ảnh hưởng tích cực đến sinh kế khi cơ hội mới tạo thêm thu nhập có ý nghĩa, giảm mức tập trung rủi ro và phù hợp với nguồn lực lao động của hộ. Nhưng tác động sẽ yếu đi nếu công việc có năng suất thấp, quá không ổn định hoặc đòi hỏi chi phí tham gia lớn.
Trường hợp hạ tầng giao thông nông thôn là một minh họa. Đường mới có thể giúp người lao động chuyển sang việc làm phi nông nghiệp, nhưng nghiên cứu của World Bank cho thấy sự dịch chuyển đó không nhất thiết đi cùng thay đổi lớn ngay lập tức về tiêu dùng hay tài sản. Open Knowledge Portal Điều này cho thấy khả năng tiếp cận là điều kiện cần nhưng chưa phải điều kiện đủ.
Tương tự, nếu cơ hội sinh lợi cao yêu cầu trình độ, vốn hoặc tài sản mà hộ nghèo không có, mở rộng thị trường lao động có thể mang lại lợi ích không cân xứng. Bằng chứng từ Malawi cho thấy ngay cả khi tham gia hoạt động phi nông nghiệp, nhóm nghèo nhất vẫn có xu hướng nhận lợi ích thấp hơn các nhóm có nguồn lực tốt hơn.
Về thực tiễn, đánh giá tiếp cận việc làm nông thôn nên nhìn đồng thời vào bốn câu hỏi: người dân có bao nhiêu lựa chọn việc làm, chi phí để tiếp cận các lựa chọn đó là bao nhiêu, chất lượng và mức sinh lợi của công việc như thế nào, và những hộ dễ tổn thương có thực sự tiếp cận được cơ hội tốt hay không. Cách nhìn này phù hợp với định hướng của ILO về phát triển kinh tế nông thôn: kết hợp hạ tầng và kết nối, kỹ năng, đa dạng hóa kinh tế, doanh nghiệp bền vững và việc làm tử tế thay vì chỉ tập trung vào số lượng vị trí việc làm.
Khả năng tiếp cận cơ hội việc làm có thể làm thay đổi sinh kế nông thôn theo ba chiều chính: mở rộng nguồn thu nhập, giảm phụ thuộc vào một hoạt động duy nhất và tăng khả năng ứng phó với biến động. Tuy nhiên, mức cải thiện phụ thuộc mạnh vào chất lượng việc làm và các rào cản tiếp cận. Khi hạ tầng, kỹ năng, tín dụng và thông tin cho phép người lao động bước vào những công việc có năng suất cao hơn, việc làm trở thành một kênh nâng cao sinh kế. Nếu những rào cản đó vẫn tồn tại, người nghèo có thể chỉ tiếp cận được các công việc lợi tức thấp và nhận được phần lợi ích nhỏ hơn từ quá trình đa dạng hóa kinh tế nông thôn.
