Hình thành giá trị gia tăng trong sản xuất như thế nào?
- Giá trị gia tăng bắt đầu từ chênh lệch đầu ra và đầu vào
- Sản xuất tạo phần chênh lệch đó bằng cách nào?
- Giá trị gia tăng cộng dồn qua các công đoạn ra sao?
- Phần giá trị mới được phân phối như thế nào?
- Những cách hiểu sai về giá trị gia tăng trong sản xuất
- Ví dụ tính giá trị gia tăng từ đầu vào đến thành phẩm
Giá trị gia tăng gộp (GVA) = Giá trị đầu ra − Tiêu dùng trung gian
Quá trình hình thành giá trị gia tăng diễn ra khi nguyên vật liệu, năng lượng và các dịch vụ đầu vào được kết hợp với lao động, máy móc, công nghệ, bí quyết và tổ chức sản xuất để tạo ra đầu ra có giá trị kinh tế cao hơn phần đầu vào trung gian đã sử dụng. Vì vậy, muốn hiểu giá trị gia tăng được tạo ra ở đâu, cần theo dõi cả quá trình từ đầu vào, biến đổi sản xuất cho đến giá trị của đầu ra.
Giá trị gia tăng bắt đầu từ chênh lệch đầu ra và đầu vào
Điểm quan trọng nhất là phân biệt giá trị đầu ra với giá trị của các đầu vào trung gian.
Giá trị đầu ra phản ánh giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ mà cơ sở sản xuất tạo ra trong kỳ. Trong cách đo đầy đủ của tài khoản quốc gia, đầu ra không nhất thiết chỉ là doanh thu đã thu tiền; nó còn có thể liên quan đến sản phẩm đã sản xuất nhưng đang nằm trong tồn kho hoặc những dạng đầu ra khác được ghi nhận theo quy tắc đo lường tương ứng.
Tiêu dùng trung gian là giá trị của hàng hóa và dịch vụ mua từ đơn vị khác rồi được sử dụng trong quá trình sản xuất, chẳng hạn nguyên liệu, linh kiện, điện năng, nhiên liệu hoặc dịch vụ gia công thuê ngoài.
Ví dụ, một doanh nghiệp tạo ra lượng sản phẩm có giá trị 200 triệu đồng và đã tiêu dùng 110 triệu đồng nguyên vật liệu, năng lượng cùng dịch vụ trung gian. Giá trị gia tăng gộp của doanh nghiệp là:
200 triệu − 110 triệu = 90 triệu đồng
90 triệu đồng này mới là phần giá trị được ghi nhận thêm tại công đoạn sản xuất đang xét.
Một điểm thường bị hiểu sai là tiền lương không được trừ cùng nguyên vật liệu để tính GVA. Lao động không phải một hàng hóa trung gian được doanh nghiệp mua rồi chuyển nguyên giá trị vào sản phẩm theo cách của nguyên liệu. Tiền công lao động được chi trả từ chính phần giá trị gia tăng đã hình thành.

Sản xuất tạo phần chênh lệch đó bằng cách nào?
Công thức đầu ra trừ đầu vào cho biết giá trị gia tăng bằng bao nhiêu, nhưng chưa giải thích tại sao phần chênh lệch có thể xuất hiện.
Trong thực tế, nguyên liệu chỉ là điểm xuất phát. Để trở thành sản phẩm có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao hơn, chúng phải trải qua một hệ thống biến đổi. Lao động vận hành thiết bị và thực hiện các công đoạn kỹ thuật; máy móc cung cấp năng lực sản xuất; công nghệ quyết định phương pháp xử lý; thiết kế và bí quyết kỹ thuật quyết định tính năng; hoạt động quản trị phối hợp con người, vật tư và thời gian để hạn chế lãng phí.
Chẳng hạn, các tấm gỗ có thể được cắt, sấy, gia công chính xác, lắp ráp và hoàn thiện thành bàn. Doanh nghiệp không chỉ chuyển nguyên liệu từ trạng thái này sang trạng thái khác. Quá trình sản xuất còn tạo thêm hình dạng, chức năng, độ chính xác, độ hoàn thiện và khả năng sử dụng mà nguyên liệu ban đầu chưa có.
Về mặt đo lường kinh tế, kết quả của toàn bộ quá trình này được phản ánh khi giá trị đầu ra lớn hơn giá trị của đầu vào trung gian đã tiêu dùng.
Điều đó cũng cho thấy giá trị gia tăng không được tạo bởi một yếu tố đơn lẻ. Trong cách tiếp cận tài khoản sản xuất, nó là kết quả kinh tế của một đơn vị sử dụng đồng thời lao động, tài sản sản xuất, công nghệ và năng lực tổ chức để tạo đầu ra.
Tuy nhiên, việc có hoạt động sản xuất không đồng nghĩa giá trị gia tăng luôn dương. Nếu sản lượng thấp, nguyên liệu bị lãng phí, dây chuyền ngừng hoạt động hoặc đầu ra có giá trị quá thấp so với lượng đầu vào trung gian đã tiêu thụ, giá trị gia tăng trong một kỳ thậm chí có thể rất thấp hoặc âm.
Giá trị gia tăng cộng dồn qua các công đoạn ra sao?
Một sản phẩm hoàn chỉnh thường không được tạo ra bởi duy nhất một doanh nghiệp. Mỗi công đoạn trong chuỗi sản xuất có thể mua đầu ra của công đoạn trước làm đầu vào, sau đó tiếp tục bổ sung giá trị.
Giả sử một chuỗi đơn giản có ba công đoạn:
· Đơn vị thứ nhất tạo nguyên liệu có giá trị 50 triệu đồng
· Đơn vị thứ hai mua nguyên liệu 50 triệu đồng và tạo bán thành phẩm trị giá 85 triệu đồng, nên bổ sung 35 triệu đồng giá trị gia tăng
· Đơn vị thứ ba mua bán thành phẩm 85 triệu đồng và tạo thành phẩm trị giá 150 triệu đồng, nên bổ sung thêm 65 triệu đồng giá trị gia tăng
Nếu giả định đơn giản rằng công đoạn đầu không có đầu vào trung gian khác, tổng giá trị gia tăng của chuỗi là:
50 35 65 = 150 triệu đồng
Đây là lý do phương pháp giá trị gia tăng đặc biệt hữu ích khi đo lường sản xuất: nó tránh cộng trùng giá trị của nguyên liệu nhiều lần.
Nếu lấy doanh thu của cả ba công đoạn và cộng trực tiếp, kết quả sẽ là 285 triệu đồng. Con số đó không phản ánh lượng giá trị cuối cùng được tạo ra vì 50 triệu đồng nguyên liệu đã được tính lại trong bán thành phẩm, còn 85 triệu đồng bán thành phẩm tiếp tục nằm trong giá trị thành phẩm.
Bằng cách lấy đầu ra trừ tiêu dùng trung gian ở từng công đoạn, phần giá trị đã được tạo ở khâu trước được loại khỏi phép tính của khâu sau. Vì thế, mỗi doanh nghiệp chỉ được ghi nhận phần giá trị mà chính công đoạn đó bổ sung.
Trong một chuỗi sản xuất thực tế, phép tính sẽ phức tạp hơn do có nhiều đầu vào từ bên ngoài, hàng nhập khẩu, dịch vụ hỗ trợ và các quy tắc định giá khác nhau. Nhưng nguyên tắc tránh tính trùng vẫn không thay đổi.
Phần giá trị mới được phân phối như thế nào?
Giá trị gia tăng hình thành tại quá trình sản xuất không đồng nghĩa toàn bộ phần chênh lệch trở thành lợi nhuận của chủ doanh nghiệp.
Theo cách tiếp cận thu nhập trong tài khoản quốc gia, giá trị gia tăng gộp của một đơn vị có thể được nhìn từ các thành phần chính gồm thu nhập của người lao động, thuế trên sản xuất sau khi trừ trợ cấp, và thặng dư hoạt động gộp hoặc thu nhập hỗn hợp tùy loại đơn vị sản xuất.
Giả sử doanh nghiệp có GVA 90 triệu đồng. Một cấu trúc minh họa có thể là:
· Chi trả cho người lao động 50 triệu đồng
· Thuế trên sản xuất sau trợ cấp 4 triệu đồng
· Thặng dư hoạt động gộp 36 triệu đồng
Tổng cộng vẫn là 90 triệu đồng.
Điều này giải thích vì sao không thể đồng nhất giá trị gia tăng với lợi nhuận. Tiền lương đã là một phần của giá trị gia tăng. Các khoản thuế liên quan đến sản xuất cũng có thể nằm trong quá trình phân phối phần giá trị đó. Phần còn lại dưới dạng thặng dư hoạt động gộp cũng chưa nhất thiết tương đương lợi nhuận kế toán cuối cùng của doanh nghiệp.
Cần phân biệt thêm giá trị gia tăng gộp và giá trị gia tăng thuần. GVA chưa trừ tiêu dùng tài sản cố định, tức phần hao mòn kinh tế của máy móc, nhà xưởng và tài sản sản xuất. Nếu tiêu dùng tài sản cố định trong ví dụ là 10 triệu đồng thì:
Giá trị gia tăng thuần = 90 − 10 = 80 triệu đồng
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng với những ngành sử dụng nhiều máy móc. Hai nhà máy có cùng GVA nhưng một nhà máy phải sử dụng lượng vốn cố định lớn hơn và chịu hao mòn tài sản cao hơn thì phần giá trị thuần còn lại có thể khác đáng kể.
Những cách hiểu sai về giá trị gia tăng trong sản xuất
Sai lầm phổ biến nhất là xem giá bán trừ chi phí như một công thức duy nhất cho mọi trường hợp. Với giá trị gia tăng, chỉ các đầu vào thuộc tiêu dùng trung gian mới được trừ khi xác định GVA. Tiền lương và việc mua máy móc mới không được xử lý giống nguyên liệu trung gian.
Máy móc là tài sản được sử dụng qua nhiều kỳ sản xuất. Vì vậy, giá mua toàn bộ một máy không được coi là tiêu dùng trung gian của riêng kỳ mà nó được mua. Phần hao mòn của tài sản được phản ánh thông qua tiêu dùng tài sản cố định khi chuyển từ giá trị gia tăng gộp sang giá trị gia tăng thuần.
Một nhầm lẫn khác là đồng nhất giá trị gia tăng với thuế giá trị gia tăng (VAT). VAT là một sắc thuế. Giá trị gia tăng là đại lượng kinh tế mô tả phần giá trị được bổ sung trong hoạt động sản xuất. Cơ chế VAT được xây dựng có liên hệ với phần giá trị tăng thêm qua các khâu, nhưng số thuế phải nộp không phải bản thân giá trị gia tăng của doanh nghiệp.
Giá trị gia tăng cũng không đồng nghĩa với lợi nhuận. Doanh nghiệp có thể tạo GVA lớn nhưng phải sử dụng một phần đáng kể để trả công lao động và bù đắp các nghĩa vụ, hao mòn vốn cũng như các khoản chi phí khác trước khi xác định kết quả tài chính cuối cùng.
Cuối cùng, giá trị gia tăng danh nghĩa tăng chưa chắc năng suất thực tế đã tăng tương ứng. Nếu giá bán sản phẩm tăng mạnh trong khi khối lượng sản xuất và hiệu quả sử dụng đầu vào gần như không đổi, GVA tính theo giá hiện hành có thể tăng đơn giản vì yếu tố giá. Khi đánh giá hiệu quả qua thời gian, cần tách ảnh hưởng của giá khỏi thay đổi về khối lượng và năng suất.
Ví dụ tính giá trị gia tăng từ đầu vào đến thành phẩm
Có thể hình dung quá trình này qua một xưởng sản xuất nội thất trong một tháng. Giả sử giá trị đầu ra của xưởng là 200 triệu đồng. Để tạo lượng sản phẩm đó, xưởng sử dụng:
· Gỗ và vật liệu chính 80 triệu đồng
· Sơn, keo và vật tư tiêu hao 10 triệu đồng
· Điện, nhiên liệu và các dịch vụ sản xuất mua ngoài 8 triệu đồng
· Dịch vụ gia công, vận chuyển trung gian phục vụ sản xuất 12 triệu đồng
Tổng tiêu dùng trung gian là 110 triệu đồng. Vì vậy:
GVA = 200 − 110 = 90 triệu đồng
Tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị đầu ra trong ví dụ là:
90 / 200 × 100% = 45%
Chỉ số 45% có nghĩa trong mỗi 100 đồng giá trị đầu ra, doanh nghiệp bổ sung 45 đồng giá trị sau khi loại phần đầu vào trung gian mua từ bên ngoài. Nó không có nghĩa doanh nghiệp thu được 45 đồng lợi nhuận.
Giả sử trong 90 triệu đồng GVA, doanh nghiệp trả 50 triệu đồng cho người lao động, ghi nhận 4 triệu đồng thuế trên sản xuất sau trợ cấp và còn 36 triệu đồng thặng dư hoạt động gộp. Nếu tiêu dùng tài sản cố định là 10 triệu đồng thì giá trị gia tăng thuần còn 80 triệu đồng và thặng dư hoạt động thuần tương ứng còn 26 triệu đồng trong mô hình minh họa.
Từ ví dụ này có thể thấy toàn bộ quá trình từ đầu vào đến sản phẩm gồm hai lớp khác nhau: sản xuất tạo ra chênh lệch giữa giá trị đầu ra và đầu vào trung gian; sau đó phần chênh lệch ấy được phân phối thành các loại thu nhập và phần bù đắp liên quan đến hoạt động sản xuất.
Khi doanh nghiệp muốn tăng giá trị gia tăng một cách bền vững, trọng tâm không chỉ là nâng giá bán. Ý nghĩa kinh tế thực sự nằm ở khả năng tạo ra nhiều giá trị đầu ra hơn từ một lượng đầu vào trung gian hợp lý, thông qua năng suất lao động, công nghệ, thiết kế sản phẩm, chất lượng, tổ chức sản xuất và giảm lãng phí.
Như vậy, giá trị gia tăng được hình thành khi một đơn vị sản xuất sử dụng lao động, tài sản, công nghệ và năng lực tổ chức để biến các đầu vào trung gian thành đầu ra có giá trị cao hơn. Về mặt đo lường, phần giá trị mới này chính là giá trị đầu ra trừ tiêu dùng trung gian. Theo dõi giá trị gia tăng theo từng công đoạn giúp xác định chính xác phần đóng góp của mỗi khâu, tránh tính trùng giá trị đầu vào và phân biệt rõ giá trị được tạo ra với doanh thu, lợi nhuận hay thuế GTGT.
