Đổi mới để phát triển!

Những yếu tố chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Những yếu tố chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tác động đồng thời đến việc làm, sản xuất, thu nhập và cách tổ chức kinh tế. Hiểu cơ chế của thị trường, công nghiệp hóa, công nghệ, hạ tầng, chính sách và nguồn lực giúp lý giải vì sao kinh tế nông thôn ngày càng đa dạng hơn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn không đơn giản là giảm tỷ trọng nông nghiệp rồi tăng công nghiệp và dịch vụ. Bản chất của quá trình này là thay đổi cách phân bổ lao động, vốn, đất đai và hoạt động sản xuất giữa các ngành; đồng thời thay đổi nguồn thu nhập và hình thức tổ chức kinh tế của cư dân nông thôn.
Những yếu tố chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Vì vậy, một yếu tố chỉ thực sự thúc đẩy chuyển dịch khi nó làm thay đổi lợi ích kinh tế tương đối giữa các hoạt động. Khi sản xuất phi nông nghiệp tạo thu nhập ổn định hơn, thị trường đòi hỏi sản phẩm có giá trị cao hơn, công nghệ giảm nhu cầu lao động trực tiếp trên đồng ruộng hoặc hạ tầng giúp doanh nghiệp tiếp cận nông thôn thuận lợi hơn, nguồn lực sẽ dịch chuyển theo.

Sự chuyển dịch này đã thể hiện khá rõ trong cơ cấu lao động Việt Nam. Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sử dụng khoảng 13,5 triệu lao động, tương đương 25,7% tổng số người có việc làm, trong khi công nghiệp - xây dựng chiếm 33,5% và dịch vụ chiếm 40,8%. Dân số nông thôn vẫn chiếm 61,4% dân số cả nước, cho thấy chuyển dịch kinh tế nông thôn không đồng nghĩa với việc nông thôn mất vai trò, mà chủ yếu là nông thôn ngày càng chứa nhiều hoạt động kinh tế ngoài sản xuất nông nghiệp truyền thống.

Thị trường làm thay đổi sản xuất và nguồn thu nhập nông thôn

Thị trường là một trong những động lực trực tiếp nhất của chuyển dịch cơ cấu. Khi nhu cầu tiêu dùng thay đổi, chênh lệch về giá, lợi nhuận và khả năng tiêu thụ sẽ khiến hộ gia đình và doanh nghiệp điều chỉnh cách sử dụng đất, vốn và lao động.

Trong nông nghiệp, cơ chế này có thể biểu hiện bằng việc chuyển từ sản phẩm có giá trị thấp sang cây trồng, vật nuôi hoặc thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn; từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa; từ bán nguyên liệu thô sang sơ chế, chế biến, bảo quản và xây dựng thương hiệu. Ngoài nông nghiệp, nhu cầu về vận tải, thương mại, sửa chữa, ăn uống, du lịch hoặc các dịch vụ phục vụ sản xuất cũng tạo thêm không gian cho kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn.

Điểm quan trọng là thị trường không chỉ làm thay đổi cơ cấu sản phẩm mà còn kéo theo thay đổi cơ cấu ngành và cơ cấu lao động. Một vùng chuyên canh phát triển mạnh thường không chỉ cần người trực tiếp sản xuất mà còn cần cơ sở cung ứng vật tư, thu mua, kho vận, chế biến và phân phối. Giá trị kinh tế vì thế được tạo ra ở nhiều khâu hơn thay vì tập trung trong hoạt động sản xuất ban đầu.

Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững của Việt Nam cũng xác định việc hoàn chỉnh cơ cấu sản xuất theo lợi thế cạnh tranh và yêu cầu thị trường, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, đồng thời phát triển chuỗi giá trị là những hướng quan trọng của quá trình cơ cấu lại.

Yếu tố chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thúc đẩy thay đổi thế nào?

Công nghiệp hóa và đô thị hóa kéo lao động sang hoạt động phi nông nghiệp

Công nghiệp hóa tạo ra nhà máy, cụm công nghiệp, cơ sở chế biến và các ngành nghề mới ở hoặc gần khu vực nông thôn. Đô thị hóa đồng thời mở rộng thị trường lao động, thị trường tiêu dùng và mạng lưới dịch vụ. Khi mức thu nhập kỳ vọng từ những hoạt động này cao hoặc ổn định hơn sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, lao động có xu hướng dịch chuyển.

Cơ chế chuyển dịch diễn ra theo hai hướng. Một bộ phận lao động rời nông nghiệp để làm công nghiệp, xây dựng hoặc dịch vụ; bộ phận còn lại tiếp tục sản xuất nông nghiệp nhưng với quy mô, công nghệ hoặc năng suất cao hơn. Vì vậy, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp không nhất thiết có nghĩa là sản lượng nông nghiệp giảm. Nếu cơ giới hóa và tổ chức sản xuất tốt hơn, ít lao động hơn vẫn có thể tạo ra giá trị cao hơn.

Số liệu năm 2025 cho thấy lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm khoảng 194,7 nghìn người so với năm trước, trong khi lao động công nghiệp - xây dựng tăng 183,3 nghìn người và dịch vụ tăng 589,6 nghìn người. Đây là biểu hiện định lượng của quá trình phân bổ lại lao động giữa các khu vực kinh tế.

Tuy nhiên, không nên hiểu chuyển dịch cơ cấu đơn thuần là “đưa càng nhiều người ra khỏi nông nghiệp càng tốt”. Chuyển dịch bền vững đòi hỏi nơi tiếp nhận lao động phải tạo được việc làm có năng suất, thu nhập và mức độ ổn định phù hợp. Nếu lao động chỉ chuyển từ nông nghiệp sang các công việc phi chính thức, thu nhập thấp và thiếu bảo đảm, cơ cấu ngành đã thay đổi nhưng chất lượng chuyển dịch chưa chắc được cải thiện.

Khoa học công nghệ nâng năng suất và hình thành ngành nghề mới

Khoa học công nghệ tác động đến chuyển dịch cơ cấu theo hai cơ chế song song.

Thứ nhất, công nghệ làm thay đổi cách sản xuất nông nghiệp. Cơ giới hóa, giống mới, tưới tiết kiệm, công nghệ bảo quản, truy xuất nguồn gốc và số hóa có thể giảm lượng lao động cần thiết cho một đơn vị sản phẩm, nâng năng suất hoặc tạo khả năng đáp ứng những phân khúc thị trường có yêu cầu cao hơn. Khi năng suất lao động tăng, một phần nhân lực được giải phóng để chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.

Thứ hai, công nghệ tạo ra các hoạt động kinh tế nằm ngoài khâu trồng trọt, chăn nuôi hay khai thác trực tiếp, chẳng hạn chế biến, logistics, thương mại điện tử, cung cấp dịch vụ kỹ thuật và quản lý dữ liệu sản xuất. Vì vậy, công nghệ không chỉ “hiện đại hóa nông nghiệp” mà còn góp phần đa dạng hóa toàn bộ nền kinh tế nông thôn.

Nội dung của Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 cho thấy cơ giới hóa, thủy lợi, giống mới, phương pháp canh tác mới, tiêu chuẩn sản xuất, công nghệ thông tin trong tiêu thụ, liên kết và truy xuất nguồn gốc đều được xem là những chỉ báo quan trọng phản ánh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi của khu vực nông nghiệp - nông thôn.

Tác động của công nghệ cũng có điều kiện. Máy móc hoặc nền tảng số không tự động tạo ra chuyển dịch hiệu quả nếu hộ sản xuất thiếu vốn, kỹ năng, quy mô phù hợp hoặc đầu ra thị trường. Công nghệ tạo cơ hội; khả năng hấp thụ công nghệ mới quyết định cơ hội đó có biến thành thay đổi cơ cấu hay không.

Hạ tầng kết nối nông thôn với thị trường và các chuỗi giá trị

Đường giao thông, điện, thủy lợi, viễn thông, internet, chợ, kho bãi và các dịch vụ tài chính tạo ra nền tảng vật chất cho chuyển dịch cơ cấu. Tác động của hạ tầng nằm ở việc giảm chi phí giao dịch và mở rộng phạm vi kinh tế mà một địa bàn nông thôn có thể tham gia.

Khi giao thông tốt hơn, nông sản có thể được đưa tới nơi tiêu thụ nhanh hơn, doanh nghiệp dễ đặt cơ sở sản xuất hoặc thu mua hơn và người lao động có thể tiếp cận các trung tâm việc làm thuận lợi hơn. Hạ tầng số mở thêm khả năng tiếp cận thông tin giá cả, khách hàng và dịch vụ mà trước đây bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý.

Đây cũng là lý do hạ tầng có tác động liên ngành: nó vừa hỗ trợ nông nghiệp hàng hóa, vừa thúc đẩy chế biến, thương mại, vận tải và dịch vụ. Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp xem hệ thống điện, đường giao thông, thông tin liên lạc, chợ, ngân hàng, tín dụng, khuyến nông và thủy lợi là những thành phần quan trọng khi đánh giá điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của nông thôn.

Tuy nhiên, hạ tầng chỉ tạo điều kiện chứ không bảo đảm chuyển dịch. Một tuyến đường mới sẽ tạo tác động mạnh hơn khi đi cùng thị trường đầu ra, năng lực sản xuất, nguồn nhân lực và môi trường kinh doanh đủ tốt. Vì thế, hiệu quả chuyển dịch thường xuất hiện khi nhiều điều kiện hỗ trợ được cải thiện đồng thời.

Chính sách và tổ chức sản xuất định hướng dòng vốn, đất đai và lao động

Thể chế và chính sách có thể thúc đẩy hoặc làm chậm chuyển dịch vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận đất đai, vốn, đào tạo, công nghệ, hạ tầng và thị trường.

Các chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất, phát triển hợp tác xã, thu hút doanh nghiệp, đào tạo nghề hoặc phát triển công nghiệp chế biến có thể làm giảm rào cản để hộ nông thôn tham gia những hoạt động có giá trị cao hơn. Ngược lại, khi sản xuất quá phân tán, liên kết yếu hoặc quyền lợi giữa các tác nhân trong chuỗi không rõ ràng, việc đầu tư công nghệ và mở rộng quy mô trở nên khó khăn.

Vai trò của tổ chức sản xuất vì thế rất đáng chú ý. Chuyển từ những hộ hoạt động riêng lẻ sang hợp tác, liên kết hợp đồng hoặc chuỗi giá trị giúp tập hợp sản lượng, chuẩn hóa chất lượng và kết nối người sản xuất với doanh nghiệp chế biến, phân phối. Khi đó, cơ cấu kinh tế thay đổi không chỉ ở tỷ trọng ngành mà còn ở cách giá trị được tạo ra và phân phối giữa các chủ thể trong nông thôn.

Quyết định 150/QĐ-TTg đặt ra định hướng phát triển việc làm phi nông nghiệp, hợp tác và liên kết chuỗi giá trị, nâng cao đào tạo nghề, phát triển hạ tầng, chuyển đổi số và hoàn thiện cơ chế chính sách. Chiến lược đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 20% tổng lao động xã hội và nâng năng suất lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản bình quân 5,5-6% mỗi năm. Những mục tiêu này cho thấy chuyển dịch được nhìn nhận đồng thời ở cả cơ cấu lao động lẫn chất lượng và năng suất của khu vực còn lại.

Nguồn nhân lực và điều kiện tự nhiên quyết định hướng chuyển dịch

Cùng một cơ hội thị trường hoặc cùng một chính sách nhưng các vùng nông thôn có thể chuyển dịch với tốc độ rất khác nhau. Nguyên nhân nằm ở chất lượng nguồn nhân lực, đặc điểm đất đai, vị trí địa lý, tài nguyên và mức độ chịu tác động của biến đổi khí hậu.

Nguồn nhân lực ảnh hưởng tới khả năng tiếp nhận công nghệ và chuyển nghề. Lao động có kỹ năng tốt hơn thường có nhiều khả năng tham gia công nghiệp, dịch vụ hoặc các khâu có giá trị gia tăng cao. Ngược lại, thiếu kỹ năng có thể khiến lao động bị mắc kẹt trong những hoạt động năng suất thấp dù cơ hội việc làm mới đã xuất hiện. Năm 2025, tỷ lệ lao động Việt Nam qua đào tạo có bằng hoặc chứng chỉ mới đạt 29,2%; đây là một giới hạn đáng chú ý khi xem xét khả năng chuyển lao động sang các hoạt động đòi hỏi kỹ năng cao hơn.

Điều kiện tự nhiên lại quyết định lợi thế và giới hạn của từng địa bàn. Đất đai, nguồn nước, khí hậu hay vị trí gần đô thị có thể tạo lợi thế cho một số cây trồng, thủy sản, du lịch hoặc công nghiệp chế biến. Ngược lại, hạn hán, xâm nhập mặn, thiên tai và suy giảm tài nguyên buộc các địa phương phải thay đổi cây trồng, sinh kế hoặc cách tổ chức sản xuất. Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 cũng đưa biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, đất bỏ hoang và khả năng ứng phó của người dân vào nhóm thông tin cần đánh giá đối với sự phát triển nông thôn.

Do đó, yếu tố tự nhiên không quyết định cứng nhắc cơ cấu kinh tế. Nó tạo ra hệ thống lợi thế và ràng buộc; thị trường, công nghệ, hạ tầng và chính sách sẽ quyết định con người khai thác hoặc thích ứng với những điều kiện đó như thế nào.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là kết quả của sự tương tác giữa thị trường, công nghiệp hóa - đô thị hóa, khoa học công nghệ, hạ tầng, chính sách - tổ chức sản xuất, nguồn nhân lực và điều kiện tự nhiên. Không yếu tố nào hoạt động hoàn toàn độc lập.

Thị trường tạo tín hiệu về lợi nhuận; công nghiệp hóa và dịch vụ tạo nơi tiếp nhận lao động; công nghệ nâng năng suất và giải phóng nguồn lực; hạ tầng giảm chi phí kết nối; chính sách tạo môi trường và động lực đầu tư; còn nguồn nhân lực cùng điều kiện địa phương quyết định khả năng tận dụng những cơ hội đó. Khi các yếu tố phối hợp tốt, chuyển dịch không chỉ làm giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp mà còn tạo ra nền kinh tế nông thôn đa ngành hơn, năng suất cao hơn và có nhiều nguồn thu nhập hơn cho cư dân.

13/08/2026 07:51:38
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN