Vì sao biến động cung thị trường xảy ra?
- Biến động cung là thay đổi lượng chào bán tại cùng một mức giá
- Chi phí sản xuất làm đường cung dịch chuyển
- Công suất quyết định mức cung có thể mở rộng đến đâu
- Số lượng người bán thay đổi tổng cung của thị trường
- Kỳ vọng có thể dịch chuyển cung hiện tại theo nhiều hướng
- Nhiều yếu tố có thể khuếch đại hoặc bù trừ nhau
Giá của chính hàng hóa tăng không tự động có nghĩa “cung tăng”. Nếu chỉ giá thay đổi còn các điều kiện cung khác giữ nguyên, doanh nghiệp di chuyển dọc đường cung và lượng cung thay đổi; biến động của cung chỉ xuất hiện khi quan hệ giữa giá và lượng chào bán thay đổi.
Biến động cung là thay đổi lượng chào bán tại cùng một mức giá
Trong kinh tế vi mô, cung thị trường tại một mức giá (P) có thể biểu diễn đơn giản là (Q_s^{M}(P)=\sum_i q_i(P)), tức tổng lượng mà từng người bán (i) chào bán ở mức giá đó. Vì vậy, để nói cung thị trường tăng hay giảm, phải giữ (P) làm mốc so sánh rồi xem tổng (q_i) có đổi hay không. Nếu ở mức giá 100.000 đồng, thị trường trước đây chào bán 1.000 đơn vị nhưng sau một thay đổi về điều kiện sản xuất lại chào 1.200 đơn vị, đó là cung tăng tại mức giá đang xét.
Cách nhìn này cũng giải thích vì sao cần tách “cung” khỏi “lượng cung”. Khi giá hàng hóa tăng từ 100.000 lên 120.000 đồng và người bán tăng sản lượng theo chính đường cung cũ, quan hệ cung chưa đổi; chỉ có điểm lựa chọn trên đường cung thay đổi. Ngược lại, nếu tại cả 100.000 và 120.000 đồng người bán đều sẵn sàng bán nhiều hơn trước, đường cung đã dịch chuyển.
Trong thực tế, một thay đổi quan sát được về giá và lượng giao dịch chưa đủ để kết luận nguyên nhân nằm ở cung, vì thị trường còn có phía cầu. Trong phạm vi phân tích cung, câu hỏi hữu ích nhất là: nếu giữ giá hiện tại không đổi, người bán có thể và sẵn sàng chào bán nhiều hơn hay ít hơn trước? Câu trả lời tạo nền cho việc xác định chiều dịch chuyển cung.

Chi phí sản xuất làm đường cung dịch chuyển
Chi phí tác động đến cung vì doanh nghiệp so sánh doanh thu nhận được từ đơn vị sản lượng tăng thêm với chi phí để tạo ra đơn vị đó. Trong mô hình cạnh tranh đơn giản, giá thị trường đóng vai trò doanh thu biên, còn chi phí biên phản ánh chi phí của đơn vị sản lượng tiếp theo. Khi chi phí đầu vào, vận hành hoặc logistics làm chi phí biên tăng, một số đơn vị sản lượng từng có lợi ở mức giá cũ có thể không còn đáng sản xuất. Lượng cung của từng doanh nghiệp giảm và cung thị trường dịch sang trái. Khi chi phí liên quan đến sản xuất thêm giảm, cơ chế diễn ra theo chiều ngược lại.
Ví dụ minh họa, giả sử giá bán giữ ở 100.000 đồng một đơn vị. Nếu chi phí để sản xuất thêm đơn vị cuối cùng tăng từ 80.000 lên 110.000 đồng, doanh nghiệp không còn động cơ sản xuất đơn vị đó trong mô hình đơn giản này. Nếu nhiều doanh nghiệp cùng chịu cú tăng chi phí tương tự, tổng lượng chào bán tại 100.000 đồng sẽ giảm. Con số ở đây chỉ để minh họa cơ chế; điểm quyết định là chi phí của sản lượng tăng thêm so với giá đang nhận được.
Không phải mọi khoản chi tăng đều làm cung ngắn hạn giảm theo cùng cách. Một khoản chi đã phát sinh và không thay đổi theo sản lượng, chẳng hạn một chi phí chìm, không trực tiếp làm đơn vị sản lượng tiếp theo đắt hơn. Vì thế, khi đánh giá tác động của chi phí lên cung, cần ưu tiên những khoản làm thay đổi chi phí biên hoặc làm thay đổi khả năng duy trì hoạt động của người bán. Đây là lý do cùng một mức tăng “tổng chi phí” có thể tạo phản ứng cung rất khác giữa các doanh nghiệp.
Công suất quyết định mức cung có thể mở rộng đến đâu
Chi phí trả lời câu hỏi doanh nghiệp có muốn sản xuất thêm hay không; công suất trả lời trước hết doanh nghiệp có thể sản xuất thêm đến đâu với nhà xưởng, máy móc, lao động và thời gian hiện có. Khi công suất được mở rộng, tập hợp sản lượng khả thi lớn hơn, nên doanh nghiệp có khả năng chào bán nhiều hơn ở những mức giá đủ hấp dẫn. Nếu công suất bị thu hẹp vì thiếu máy, thiếu nhân lực hoặc gián đoạn dây chuyền, giới hạn sản lượng thấp hơn có thể kéo cung sang trái.
Giả sử một cơ sở có thể sản xuất tối đa 100 đơn vị mỗi ca nhưng hiện chỉ làm 70 đơn vị. Nếu có đơn hàng và mức giá phù hợp, cơ sở còn khoảng công suất nhàn rỗi để tăng sản lượng mà chưa cần bổ sung dây chuyền. Trái lại, khi đã ở sát mức 100 đơn vị, muốn làm thêm có thể phải tăng ca, thuê thêm thiết bị hoặc đầu tư mới. Khi đó, ràng buộc công suất thường đi cùng chi phí sản xuất thêm cao hơn, nên công suất và chi phí không nên được xem như hai nguyên nhân hoàn toàn tách biệt.
Công suất lớn hơn cũng không đồng nghĩa cung thực tế chắc chắn tăng ngay. Một nhà máy có thể có máy móc dư nhưng vẫn không sản xuất thêm nếu mức giá hiện tại không bù được chi phí liên quan. Vì thế, công suất là điều kiện về khả năng, còn cung phản ánh đồng thời khả năng và mức sẵn sàng bán ở từng mức giá.
Số lượng người bán thay đổi tổng cung của thị trường
Cung thị trường là phép cộng cung của các người bán. Khi một người bán mới gia nhập và chào một lượng dương ở mức giá đang xét, phần cung đó được cộng vào tổng thị trường; khi một người bán rút lui, phần cung của họ biến mất khỏi tổng. Đây là cơ chế trực tiếp khiến gia nhập thường làm cung tăng và rút lui thường làm cung giảm.
Ví dụ, ở mức giá cố định, ba người bán lần lượt chào 10, 12 và 8 đơn vị thì cung thị trường là 30 đơn vị. Nếu một người bán mới chào thêm 5 đơn vị, tổng cung trở thành 35. Ngược lại, nếu người bán đang cung 12 đơn vị rời thị trường và các điều kiện khác giữ nguyên, tổng cung giảm còn 18. Nếu các phần khác giữ nguyên, mỗi người bán gia nhập hoặc rút lui làm tổng cung thay đổi đúng bằng lượng họ chào bán ở mức giá đang xét.
Tuy nhiên, không thể suy ra rằng số người bán tăng 10% thì cung chắc chắn tăng 10%. Doanh nghiệp khác nhau về quy mô, công suất, chi phí và lượng chào bán. Một người bán mới rất nhỏ có thể chỉ làm tổng cung tăng nhẹ; một nhà cung cấp lớn rút lui có thể làm tổng cung giảm mạnh dù số lượng doanh nghiệp chỉ giảm một đơn vị. Vì vậy, cần nhìn cả số người bán lẫn quy mô cung của từng người.
Kỳ vọng có thể dịch chuyển cung hiện tại theo nhiều hướng
Kỳ vọng tác động đến cung hiện tại vì doanh nghiệp không chỉ quyết định bán bao nhiêu mà còn quyết định khi nào sản xuất hoặc bán. Với hàng có thể lưu trữ, nếu người bán kỳ vọng giá tương lai cao hơn đủ để bù chi phí lưu kho và rủi ro, họ có thể giữ lại một phần hàng thay vì bán ngay. Khi đó, lượng chào bán hiện tại giảm ở cùng mức giá, làm cung hiện tại dịch sang trái.
Nhưng kỳ vọng giá hoặc nhu cầu tương lai cao không phải lúc nào cũng làm cung hiện tại giảm. Với hàng dễ hỏng hoặc rất tốn kém để lưu trữ, lựa chọn “giữ hàng chờ giá cao” bị hạn chế. Kỳ vọng tốt cũng có thể khiến doanh nghiệp tăng sản xuất từ sớm; nếu sản lượng bổ sung hoàn thành trong kỳ hiện tại, cung hiện tại có thể tăng, còn nếu chỉ hoàn thành ở kỳ sau thì tác động nằm ở cung tương lai. Vì vậy cần tách kênh tồn kho — bán bây giờ hay sau — khỏi kênh sản xuất — sản lượng có thể được hoàn thành vào thời điểm nào.
Muốn xác định chiều tác động của kỳ vọng, cần biết hàng hóa có lưu trữ được không, chi phí lưu kho ra sao và chu kỳ sản xuất dài hay ngắn. Nếu bỏ qua các điều kiện này, câu kết luận “kỳ vọng giá tương lai tăng làm cung hiện tại giảm” chỉ đúng trong một số trường hợp chứ không phải quy luật áp dụng cho mọi thị trường.
Nhiều yếu tố có thể khuếch đại hoặc bù trừ nhau
Trong phân tích ceteris paribus, mỗi yếu tố thường được xem riêng để hiểu cơ chế. Thị trường thực tế lại có thể thay đổi nhiều điều cùng lúc. Chi phí đầu vào giảm và công suất mở rộng có thể cùng làm lượng cung của các doanh nghiệp tăng; ngược lại, chi phí tăng có thể kéo cung xuống trong khi người bán mới gia nhập lại kéo tổng cung lên. Biến động quan sát được là kết quả ròng của các tác động này.
Một ví dụ số học cho thấy vì sao chỉ nhìn dấu của từng yếu tố là chưa đủ. Ở một mức giá cố định, giả sử chi phí giảm giúp năm người bán còn lại mỗi người tăng lượng chào bán thêm 2 đơn vị, tổng tác động là 10. Nếu cùng lúc một người bán khác đang cung 8 đơn vị rút khỏi thị trường, tác động ròng từ hai thay đổi này còn 2 đơn vị, trước khi xét công suất hoặc kỳ vọng. Nếu người rút lui lớn hơn, kết quả ròng thậm chí có thể đổi chiều.
Để đọc một biến động cung mà không lẫn cơ chế, có thể dùng ba bước:
1. Giữ giá của chính hàng hóa cố định làm mốc so sánh
2. Xác định yếu tố đang làm thay đổi lượng cung của từng người bán hay làm thay đổi số người bán
3. Cộng các tác động theo chiều tăng hoặc giảm và chỉ kết luận độ lớn khi có đủ thông tin về cường độ
Cách làm này cũng đặt đúng giới hạn cho suy luận: thấy cung tăng không có nghĩa chắc chắn chi phí đã giảm, cũng không chứng minh một nguyên nhân duy nhất. Nhiều tổ hợp khác nhau của chi phí, công suất, người bán và kỳ vọng có thể tạo ra cùng một chiều dịch chuyển.
Biến động cung thị trường xảy ra khi tổng lượng mà người bán có thể và sẵn sàng chào bán ở cùng một mức giá thay đổi. Chi phí chủ yếu tác động qua chi phí của sản lượng tăng thêm; công suất đặt giới hạn cho sản lượng khả thi; số lượng người bán thay đổi tổng các nguồn cung cá nhân; còn kỳ vọng làm thay đổi thời điểm sản xuất hoặc bán tùy điều kiện lưu trữ và độ trễ sản xuất.
Vì các yếu tố này có thể xuất hiện đồng thời, chiều tăng hay giảm của cung là kết quả ròng chứ không nhất thiết phản ánh một nguyên nhân đơn lẻ. Muốn xác định đúng, trước hết phải tách dịch chuyển cung khỏi thay đổi lượng cung do giá, rồi xem từng yếu tố làm lượng chào bán tại mức giá đang xét tăng hay giảm.
