Lượng cầu và cầu thị trường khác nhau thế nào?
- Lượng cầu là một điểm, cầu thị trường là toàn bộ quan hệ cầu
- Trên hàm và đường cầu, lượng cầu chỉ là một giá trị của cầu
- Giá thay đổi làm lượng cầu thay đổi dọc theo cùng một đường cầu
- Yếu tố ngoài giá mới làm toàn bộ cầu thị trường thay đổi
- Cầu thị trường được tạo từ lượng cầu của từng người mua tại mỗi mức giá
- Cách nhận biết nhanh lượng cầu và cầu thị trường trong bài tập
Vì vậy, trong một bảng cầu thị trường, mỗi con số về số lượng tại một mức giá là lượng cầu thị trường tại mức giá đó; toàn bộ các cặp giá – lượng mới tạo thành cầu thị trường. Phân biệt được hai cấp độ này sẽ giúp tránh nhầm giữa “thay đổi lượng cầu” và “thay đổi cầu”.
Lượng cầu là một điểm, cầu thị trường là toàn bộ quan hệ cầu
Theo cách dùng chuẩn trong kinh tế vi mô, lượng cầu (quantity demanded) là số lượng một hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua muốn và có khả năng mua tại một mức giá cụ thể, trong một khoảng thời gian xác định, khi các yếu tố khác được giữ không đổi.
Cầu thị trường (market demand) rộng hơn. Nó biểu diễn mối quan hệ giữa nhiều mức giá có thể có và tổng lượng cầu của tất cả người mua trong thị trường tại từng mức giá đó.
|
Tiêu chí |
Lượng cầu |
Cầu thị trường |
|
Bản chất |
Một số lượng cụ thể |
Toàn bộ quan hệ giữa giá và tổng lượng cầu |
|
Mức giá |
Gắn với một mức giá xác định |
Xét nhiều mức giá |
|
Biểu diễn |
Một điểm trên đường cầu hoặc một dòng trong bảng cầu |
Cả đường cầu, bảng cầu hoặc hàm cầu thị trường |
|
Phạm vi người mua |
Có thể là một cá nhân hoặc toàn thị trường |
Tổng hợp tất cả người mua trong thị trường |
|
Khi giá hàng hóa thay đổi |
Lượng cầu thường thay đổi dọc theo đường cầu |
Bản thân đường cầu chưa nhất thiết thay đổi |
Điểm cuối cùng đặc biệt quan trọng. Nếu giá của chính hàng hóa thay đổi nhưng những điều kiện khác vẫn giữ nguyên, người mua chuyển từ một lượng cầu sang một lượng cầu khác trên cùng quan hệ cầu. Vì vậy, thay đổi giá không đồng nghĩa với thay đổi cầu thị trường.

Trên hàm và đường cầu, lượng cầu chỉ là một giá trị của cầu
Có thể biểu diễn cầu thị trường bằng một hàm đơn giản:
Qd = f(P)
Trong đó, P là giá và Qd là lượng cầu tương ứng, với giả định các yếu tố ngoài giá được giữ không đổi.
Giả sử một thị trường có quan hệ cầu như sau:
|
Giá |
Tổng lượng cầu |
|
30.000 đồng |
5 đơn vị |
|
25.000 đồng |
7 đơn vị |
|
20.000 đồng |
9 đơn vị |
Tại mức giá 30.000 đồng, 5 đơn vị là lượng cầu thị trường. Tại mức giá 25.000 đồng, lượng cầu là 7 đơn vị. Ba cặp giá – lượng cùng nhau mô tả một phần của cầu thị trường.
Trên đồ thị, mỗi cặp như (30.000; 5) là một điểm. Nối các điểm thể hiện quan hệ giữa giá và tổng lượng cầu sẽ tạo thành đường cầu thị trường. Vì thế, có thể hiểu ngắn gọn rằng lượng cầu là giá trị tại một điểm của quan hệ cầu, còn cầu thị trường là toàn bộ quan hệ đó.
Cách diễn giải này cũng cho thấy vì sao không nên nói “giá giảm làm cầu tăng” nếu chỉ có sự thay đổi giá của chính hàng hóa. Trong trường hợp các điều kiện khác không đổi, điều thay đổi trực tiếp là lượng cầu.
Giá thay đổi làm lượng cầu thay đổi dọc theo cùng một đường cầu
Giả sử giá giảm từ 30.000 xuống 25.000 đồng và tổng lượng mua tăng từ 5 lên 7 đơn vị. Hai điểm này vẫn thuộc cùng một đường cầu nếu thu nhập, sở thích, số người mua, kỳ vọng và giá các hàng hóa liên quan không thay đổi.
Hiện tượng đó được gọi là sự thay đổi lượng cầu hay sự di chuyển dọc theo đường cầu:
Giá thay đổi → chọn một điểm khác trên cùng đường cầu → lượng cầu thay đổi
Nếu giá giảm, lượng cầu thông thường tăng; nếu giá tăng, lượng cầu thông thường giảm, với điều kiện ceteris paribus — các yếu tố khác không đổi.
Ranh giới ở đây nằm ở nguyên nhân của sự thay đổi. Khi giá của chính hàng hóa là yếu tố thay đổi, ta đang so sánh các lượng cầu tại những mức giá khác nhau trên một quan hệ cầu đã có. Không cần vẽ một đường cầu mới chỉ vì giá chuyển từ mức này sang mức khác.
Yếu tố ngoài giá mới làm toàn bộ cầu thị trường thay đổi
Cầu thị trường thay đổi khi một yếu tố ngoài giá làm người tiêu dùng muốn mua một lượng khác ngay cả khi giá của chính hàng hóa vẫn giữ nguyên. Khi đó, quan hệ giữa giá và lượng cầu đã thay đổi, nên đường cầu phải dịch chuyển hoặc thay đổi hình dạng.
Các yếu tố thường có thể làm cầu thị trường thay đổi gồm thu nhập của người mua, thị hiếu, kỳ vọng, giá của hàng hóa thay thế hoặc bổ sung và số lượng người mua trên thị trường.
Ví dụ, tại mức giá 30.000 đồng, thị trường ban đầu có lượng cầu 5 đơn vị. Sau khi có thêm người mua tham gia, tại chính mức giá 30.000 đồng tổng lượng người tiêu dùng muốn mua tăng lên 8 đơn vị. Đây không còn là việc chuyển sang một điểm khác do giá thay đổi; quan hệ cầu thị trường đã thay đổi.
Có thể dùng phép kiểm tra đơn giản:
Giữ nguyên giá của hàng hóa và hỏi liệu lượng người mua muốn mua có thay đổi hay không.
Nếu có, nguyên nhân đang tác động đến cầu chứ không chỉ tạo ra chuyển động dọc theo đường cầu cũ.
Cầu thị trường được tạo từ lượng cầu của từng người mua tại mỗi mức giá
Từ “thị trường” cho biết cầu đang được xét ở cấp độ tổng hợp. Tại mỗi mức giá, lượng cầu thị trường bằng tổng lượng cầu của các cá nhân tham gia thị trường:
Qd thị trường(P) = q₁(P) q₂(P) … qₙ(P)
Giả sử tại giá 30.000 đồng, người A muốn mua 2 đơn vị và người B muốn mua 3 đơn vị. Lượng cầu thị trường tại mức giá này là 5 đơn vị. Nếu giá xuống 25.000 đồng và A muốn mua 3 đơn vị, B muốn mua 4 đơn vị, lượng cầu thị trường trở thành 7 đơn vị.
Ta phải thực hiện phép cộng này riêng tại từng mức giá. Kết quả tại một mức giá chỉ là một lượng cầu thị trường. Khi tổng hợp kết quả ở nhiều mức giá, ta mới có bảng cầu hoặc đường cầu thị trường.
Điều này cũng giải quyết một nhầm lẫn phổ biến: “lượng cầu” không mặc nhiên có nghĩa là lượng của một cá nhân. Hoàn toàn có thể nói lượng cầu thị trường tại mức giá 30.000 đồng là 5 đơn vị. Sự khác biệt giữa “lượng cầu” và “cầu thị trường” trước hết nằm ở một giá trị tại một mức giá so với toàn bộ quan hệ giá – lượng, chứ không đơn thuần nằm ở cá nhân so với thị trường.
Cách nhận biết nhanh lượng cầu và cầu thị trường trong bài tập
Khi gặp một dữ kiện kinh tế, hãy xem nó đang mô tả một mức giá và một số lượng hay đang mô tả cả quan hệ giữa nhiều mức giá và lượng mua tương ứng.
Nếu đề bài cho rằng “ở giá 50.000 đồng, người tiêu dùng mua 1.000 sản phẩm mỗi tháng”, 1.000 sản phẩm là lượng cầu tại giá 50.000 đồng.
Nếu đề bài đưa ra bảng gồm nhiều mức giá cùng lượng mua tương ứng hoặc một đường biểu diễn các cặp giá – lượng, đối tượng đang được mô tả là cầu; nếu các số lượng đã cộng cho tất cả người mua, đó là cầu thị trường.
Khi một tình huống mô tả giá của chính sản phẩm thay đổi và các điều kiện khác không đổi, hãy nghĩ đến thay đổi lượng cầu. Khi giá đang giữ nguyên nhưng thu nhập, thị hiếu, số người mua, kỳ vọng hoặc giá hàng hóa liên quan thay đổi, hãy kiểm tra sự thay đổi của cầu thị trường.
Cách nhận biết này chính xác hơn việc chỉ nhìn xem “số lượng mua có tăng hay giảm”, bởi lượng mua có thể thay đổi trong cả hai trường hợp. Điều cần xác định là nguyên nhân thay đổi và quan hệ cầu có còn giữ nguyên hay không.
Tóm lại, lượng cầu là số lượng được xác định tại một mức giá cụ thể, còn cầu thị trường là toàn bộ quan hệ giữa các mức giá và tổng lượng cầu của người mua trên thị trường. Một thay đổi về giá của chính hàng hóa thường làm lượng cầu di chuyển dọc theo đường cầu hiện có; một yếu tố ngoài giá làm thay đổi lượng mua tại cùng mức giá mới là dấu hiệu cho thấy cầu thị trường đã thay đổi.
