Những yếu tố ảnh hưởng chi phí giao dịch
- Thông tin thiếu hoặc khó kiểm chứng làm tăng chi phí tìm kiếm
- Khoảng cách làm tăng chi phí phối hợp, vận chuyển và giám sát
- Thương lượng phức tạp làm tăng thời gian và chi phí ký kết
- Bất định và tài sản chuyên biệt làm tăng chi phí phòng ngừa rủi ro
- Thực thi hợp đồng khó làm tăng chi phí giám sát và xử lý tranh chấp
- Các yếu tố có thể cộng hưởng nên cần đánh giá toàn bộ vòng đời giao dịch
Vì vậy, một yếu tố làm tăng chi phí giao dịch khi nó khiến một hoặc nhiều công đoạn của quá trình trao đổi tốn thêm thời gian, tiền bạc hoặc nguồn lực kiểm soát rủi ro. Không có một tỷ lệ phần trăm chung áp dụng cho mọi giao dịch: tác động phải được xem xét theo loại hàng hóa, mức độ tiêu chuẩn hóa, khoảng cách, chất lượng thông tin, độ phức tạp của hợp đồng và môi trường thực thi.
Thông tin thiếu hoặc khó kiểm chứng làm tăng chi phí tìm kiếm
Khi giá, chất lượng, năng lực của đối tác hoặc điều kiện giao dịch không rõ ràng, bên mua và bên bán phải dành thêm thời gian để tìm nguồn, so sánh phương án, kiểm tra hồ sơ và xác minh các cam kết. Đây là phần chi phí tìm kiếm và thẩm định phù hợp với lập luận của Coase rằng việc sử dụng thị trường vẫn đòi hỏi nguồn lực để phát hiện thông tin liên quan và thiết lập giao dịch.
Chi phí tăng mạnh hơn khi thông tin bất cân xứng, tức một bên biết nhiều hơn bên còn lại về chất lượng hoặc rủi ro của đối tượng giao dịch. Bên ít thông tin thường phải bổ sung bước kiểm định, yêu cầu bảo hành, đặt điều kiện thanh toán, thuê tư vấn hoặc xây dựng cơ chế bảo đảm. Những biện pháp này giảm rủi ro lựa chọn hoặc thực hiện sai, nhưng đồng thời làm tăng nguồn lực cần để hoàn tất trao đổi.
Với hàng hóa tiêu chuẩn, giá niêm yết công khai, lịch sử giao dịch minh bạch và bên thứ ba xác thực đáng tin cậy, chi phí tìm kiếm có thể thấp dù giá trị giao dịch lớn. Tác động của thông tin có thể theo dõi qua số giờ tìm kiếm và thẩm định, phí kiểm tra, chi phí tư vấn, số lần yêu cầu bổ sung dữ liệu và thời gian bị kéo dài trước khi ra quyết định.

Khoảng cách làm tăng chi phí phối hợp, vận chuyển và giám sát
Với giao dịch hàng hóa vật chất, khoảng cách có thể kéo theo chi phí đi lại, vận chuyển mẫu, kiểm tra tại chỗ, giao nhận và xử lý sai lệch. Với giao dịch dịch vụ hoặc dự án, tác động thường xuất hiện dưới dạng thời gian phối hợp, chênh lệch múi giờ, số vòng trao đổi và khó khăn trong việc quan sát chất lượng thực hiện.
Nếu bên mua không thể dễ dàng kiểm tra nhà cung cấp ở xa, họ có thể phải thuê đơn vị đánh giá, yêu cầu báo cáo thường xuyên hoặc xây dựng thêm thủ tục kiểm soát. Vì thế, khoảng cách không chỉ tác động đến logistics mà còn có thể làm tăng chi phí thông tin và giám sát.
Trong cách định nghĩa hẹp, cước vận chuyển thuần túy có thể được tách thành chi phí logistics thay vì chi phí giao dịch. Khoảng cách ảnh hưởng rõ nhất đến chi phí giao dịch khi nó làm phát sinh thêm hoạt động tìm kiếm, phối hợp, kiểm tra, giám sát hoặc xử lý sai lệch. Giao dịch số hóa, sản phẩm tiêu chuẩn, hệ thống theo dõi minh bạch hoặc quy trình kiểm định từ xa có thể làm các khoản này giảm mạnh.
Thương lượng phức tạp làm tăng thời gian và chi phí ký kết
Khi điều khoản có thể chuẩn hóa, hai bên thường chỉ cần thống nhất một số biến số như giá, số lượng và thời hạn. Giao dịch càng riêng biệt thì càng nhiều nội dung phải thương lượng: tiêu chuẩn chất lượng, phạm vi công việc, cách điều chỉnh giá, trách nhiệm khi chậm tiến độ, bảo mật, bảo hành, phân chia rủi ro và cơ chế xử lý vi phạm. Nhiều bên tham gia hoặc nhiều cấp phê duyệt còn làm số vòng trao đổi tăng thêm.
Coase xem thương lượng và ký kết hợp đồng là một cấu phần của chi phí sử dụng thị trường. Càng cần nhiều thời gian của quản lý, chuyên gia kỹ thuật và luật sư để đạt được thỏa thuận, chi phí giao dịch càng cao; quá trình kéo dài còn tạo chi phí cơ hội khi giao dịch hoặc dự án bị trì hoãn.
Giá trị giao dịch lớn không tự động đồng nghĩa chi phí thương lượng cao. Một hợp đồng lớn nhưng điều khoản chuẩn hóa có thể dễ ký hơn một giao dịch nhỏ cần tùy biến sâu. Các chỉ báo sát với cơ chế hơn gồm số vòng đàm phán, số lần sửa dự thảo, số giờ nhân sự tham gia, phí tư vấn pháp lý và thời gian từ đề nghị ban đầu đến khi hợp đồng được ký.
Bất định và tài sản chuyên biệt làm tăng chi phí phòng ngừa rủi ro
Bất định làm hợp đồng khó bao quát mọi tình huống có thể xảy ra trong tương lai. Khi giá đầu vào, nhu cầu, công nghệ hoặc yêu cầu thực hiện có thể thay đổi, các bên thường phải bổ sung điều khoản điều chỉnh, cơ chế phê duyệt, bảo lãnh, bảo hiểm hoặc quy trình tái thương lượng. Những biện pháp này làm tăng chi phí trước và trong giao dịch để đổi lấy khả năng xử lý biến động tốt hơn.
Williamson đặc biệt nhấn mạnh tài sản chuyên biệt trong kinh tế học chi phí giao dịch. Đây là khoản đầu tư có giá trị cao hơn trong một quan hệ cụ thể so với khi chuyển sang mục đích hoặc đối tác khác, chẳng hạn thiết bị được tùy chỉnh cho một khách hàng hay hệ thống được tích hợp riêng cho một nhà cung cấp. Sau khi đầu tư, chi phí chuyển đổi tăng và mức phụ thuộc giữa các bên lớn hơn, nên hợp đồng thường cần thêm cam kết dài hạn, cơ chế bảo đảm, giám sát hoặc điều khoản xử lý khi quan hệ bị gián đoạn.
Tài sản chuyên biệt vẫn có thể nâng hiệu suất của quan hệ hợp tác; phần chi phí giao dịch phát sinh chủ yếu từ nhu cầu bảo vệ khoản đầu tư và quản lý rủi ro bị phụ thuộc. Các khoản có thể theo dõi gồm chi phí chuyển đổi đối tác, giá trị đầu tư khó tái sử dụng, phí bảo lãnh hoặc bảo hiểm và nguồn lực dành cho điều khoản dự phòng.
Thực thi hợp đồng khó làm tăng chi phí giám sát và xử lý tranh chấp
Một thỏa thuận tạo ra ít rủi ro thực thi hơn khi kết quả có thể quan sát, trách nhiệm được xác định rõ và vi phạm có cơ chế xử lý khả thi. Nếu chất lượng khó đo, nghĩa vụ mơ hồ, chứng cứ khó thu thập hoặc giải quyết tranh chấp chậm và thiếu chắc chắn, các bên thường phải tăng giám sát, lưu hồ sơ, dùng bảo lãnh, ký quỹ, thuê tư vấn hoặc dự phòng chi phí pháp lý.
Douglass North nhấn mạnh rằng thể chế và cơ chế thực thi định hình chi phí trao đổi vì chúng ảnh hưởng đến mức độ chắc chắn của quyền và nghĩa vụ. Quy tắc rõ, quyền tài sản được xác định tốt và cơ chế thực thi đáng tin cậy làm giảm nhu cầu tự tạo thêm lớp bảo vệ; khi khả năng thực thi khó dự đoán, chi phí phòng ngừa và xử lý vi phạm tăng.
Độ dài hợp đồng không phải chỉ báo đủ cho rủi ro thực thi. Một hợp đồng dài nhưng quyền, nghĩa vụ và cách xử lý rõ ràng có thể giảm tranh chấp, trong khi một hợp đồng ngắn nhưng mơ hồ có thể tạo chi phí lớn về sau. Có thể theo dõi tác động qua thời gian giám sát, chi phí kiểm toán hoặc xác nhận, giá trị bảo lãnh và ký quỹ, phí pháp lý, thời gian thu hồi công nợ và nguồn lực dùng để giải quyết bất đồng.
Các yếu tố có thể cộng hưởng nên cần đánh giá toàn bộ vòng đời giao dịch
Khoảng cách có thể làm thông tin khó kiểm chứng hơn; thiếu thông tin khiến thương lượng kéo dài; hợp đồng tùy biến trong môi trường bất định đòi hỏi nhiều điều khoản bảo vệ; nếu khả năng thực thi yếu, các bên tiếp tục tăng giám sát và bảo đảm. Chi phí vì thế có thể tích tụ ở nhiều công đoạn thay vì xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ.
Có thể theo dõi chi phí theo toàn bộ vòng đời giao dịch. Trước khi ký, ghi nhận thời gian tìm kiếm, thẩm định và chi phí tiếp cận đối tác. Trong quá trình thương lượng, ghi nhận giờ nhân sự, phí tư vấn, số lần sửa điều khoản và chi phí trì hoãn. Khi thực hiện, theo dõi chi phí phối hợp, logistics, kiểm tra, bảo lãnh và giám sát. Sau giao dịch, tính thêm chi phí thu hồi công nợ, xử lý khiếu nại, tranh chấp hoặc chuyển đổi đối tác nếu có.
Chi phí giao dịch không đồng nhất với giá mua hay chi phí sản xuất. Hai nhà cung cấp có cùng mức giá vẫn có thể tạo tổng chi phí giao dịch khác nhau nếu một bên đòi hỏi nhiều thẩm định, đàm phán, giám sát hoặc xử lý rủi ro hơn. Không có một yếu tố luôn đứng đầu trong mọi tình huống; yếu tố chi phối chi phí trong từng trường hợp là yếu tố làm tăng nhiều nhất nguồn lực cần để giao dịch được hình thành, thực hiện và bảo vệ.
Chi phí giao dịch tăng khi việc trao đổi đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn ngoài bản thân giá của hàng hóa hay dịch vụ. Thông tin khó tìm hoặc khó kiểm chứng làm tăng chi phí tìm kiếm; khoảng cách có thể tăng phối hợp và giám sát; thương lượng phức tạp làm tăng chi phí ký kết; bất định và tài sản chuyên biệt làm tăng nhu cầu bảo vệ; còn thực thi khó khăn đẩy chi phí giám sát và xử lý tranh chấp lên cao. Mức tác động không cố định, vì các yếu tố thường tương tác và phụ thuộc vào mức độ tiêu chuẩn hóa, khả năng số hóa, đặc điểm hợp đồng và môi trường thể chế của từng giao dịch.
